Site icon MUC News

Lồng nuôi cá HDPE giúp ngư dân tăng lợi nhuận và thích ứng thiên tai

Lồng nuôi cá HDPE giúp ngư dân tăng lợi nhuận và thích ứng thiên tai

Dùng chiếc lồng kỳ diệu, ngư dân nuôi cá mú lãi gấp 3 lần, hàng trăm triệu đổ về túi- Công nghệ lồng HDPE thúc đẩy nuôi biển bền vững tại Khánh Hòa. (Ảnh: Chụp màn hình báo Cafef).

Viêc chuyển dịch sang lồng nhựa HDPE giúp ngư dân Việt Nam tối ưu hóa chi phí, tăng lợi nhuận gấp ba lần và thích ứng hiệu quả với thiên tai khắc nghiệt.

Lồng nuôi cá HDPE nâng cao khả năng chống chịu bão lũ

Ngành nuôi biển Việt Nam đang ghi nhận sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu hạ tầng, từ vật liệu gỗ và phao xốp truyền thống sang nhựa HDPE chịu lực. Theo dữ liệu đến cuối năm 2024, tổng thể tích lồng nuôi toàn quốc đã đạt 9,7 triệu m3, tăng hơn 38% so với thời điểm bốn năm trước đó, đi kèm với sản lượng thủy sản đáng kể đạt 832.000 tấn.

Ưu điểm vượt trội của hệ thống này là khả năng chịu được sức gió bão lên đến cấp 12 cùng tuổi thọ thiết kế bền bỉ kéo dài từ 20 đến 50 năm. Cấu trúc nhựa HDPE có tính đàn hồi cao, cho phép toàn bộ khung lồng tự biến dạng theo hình sóng để hấp thụ các xung lực từ đại dương thay vì đối đầu trực diện gây hư hỏng.

Nhờ cơ chế linh hoạt này, hệ thống lưới và vật nuôi bên trong được bảo vệ an toàn, khắc phục hoàn toàn nhược điểm dễ đứt gãy của các vật liệu gỗ truyền thống. Đây được xem là giải pháp quan trọng giúp ngư dân bảo vệ tài sản và duy trì sinh kế trước những biến động thời tiết ngày càng khó lường tại các vùng biển trọng điểm.

Lồng nuôi cá HDPE mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội

Việc sử dụng lồng HDPE mang lại lợi ích tài chính lớn cho người dân nhờ khả năng loại bỏ chi phí thay mới hạ tầng định kỳ sau mỗi chu kỳ 2 đến 3 năm. Thực tế tại Khánh Hòa và Quảng Ngãi cho thấy, mô hình nuôi cá giò bằng lồng mới ghi nhận mức lợi nhuận bình quân khoảng 200 triệu đồng mỗi lồng sau 9 tháng, tăng 308% so với lồng gỗ.

Kết quả tích cực cũng được ghi nhận tại khu vực phía Bắc như Hải Phòng và Quảng Ninh với các dự án nuôi cá mú trân châu quy mô lớn. Mô hình này đạt tỷ lệ cá sống trên 75% và năng suất 17 kg/m3, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ nuôi thêm gần 70% so với phương pháp canh tác lạc hậu trước đây.

Sự phát triển này gắn liền với năng lực của các doanh nghiệp nội địa trong việc làm chủ quy trình sản xuất hạt nhựa nguyên sinh và kéo sợi đạt tiêu chuẩn quốc tế. Những đơn vị như STP Group hay các doanh nghiệp công nghệ tại Khánh Hòa đang vận hành nhà máy quy mô lớn, cung ứng thiết bị hiện đại cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Bài toán nguồn vốn trong lộ trình công nghiệp hóa nuôi biển

Hiện nay, riêng tại tỉnh Khánh Hòa đã có hàng chục hộ ngư dân hoàn tất việc lắp đặt 50 lồng tròn và 12 ô lồng vuông bằng chất liệu nhựa mới. Những nỗ lực này nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa giá trị xuất khẩu thủy sản của toàn ngành đạt mức từ 1,8 đến 2 tỷ USD mỗi năm trong thời gian tới.

Tuy nhiên, quá trình nhân rộng công nghệ mới vẫn gặp trở ngại do suất đầu tư ban đầu của nhựa HDPE cao hơn đáng kể so với vật liệu tre gỗ. Phần lớn ngư dân hiện nay vẫn đang hoạt động ở quy mô nhỏ lẻ, năng lực tài chính còn hạn chế nên khó có thể tự chủ thực hiện việc chuyển đổi đồng bộ hạ tầng.

Để tháo gỡ khó khăn, các địa phương đang khẩn trương hoàn thiện quy hoạch vùng mặt nước và thiết lập các chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho người dân. Việc xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa ngư dân, doanh nghiệp và các tổ chức ngân hàng là giải pháp then chốt để thay đổi thói quen canh tác theo hướng bền vững.

Theo: Cafef