Sầu riêng Việt Nam đang tăng nhanh kim ngạch tại Trung Quốc, nhưng giá bán giảm sâu cho thấy mở rộng thị trường chưa đồng nghĩa với việc tạo được giá trị cao.
- Chiếc roi bện thủ công trong vụ đánh trẻ ở chùa Bầu, Phú Thọ
- Trump siết kinh tế Iran sau khi dừng đàm phán
- Cậu học trò trong ảnh gây sốt mạng với cha làm tài xế đã đỗ ngành Y
Nửa đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc đạt gần 988 triệu USD, tăng 43,4% so với cùng kỳ và chiếm 48,45% tổng kim ngạch rau quả xuất sang thị trường này. Tại chương trình kết nối chuỗi cung ứng ở Đắk Lắk chiều 19/8, các chuyên gia cho biết khoảng một tỷ người Trung Quốc chưa từng ăn sầu riêng.
Tại sự kiện, ông Lưu Húc, Giám đốc kinh doanh thị trường nước ngoài của Liên hiệp Hợp tác xã Cung ứng và Tiêu thụ Quảng Tây, cho biết nhu cầu đối với sầu riêng chất lượng cao tại Trung Quốc vẫn tăng. Dữ liệu hải quan Trung Quốc được South China Morning Post trích dẫn cho thấy năm 2025, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này lượng sầu riêng trị giá 3,44 tỷ USD, tăng 17% so với 2,94 tỷ USD năm 2024.
Chỉ trong ba năm kể từ khi chính thức thâm nhập thị trường năm 2020, thị phần sầu riêng Việt Nam tại Trung Quốc đã tăng từ 0% lên hơn 40%. Tuy vậy, Thái Lan vẫn là nhà cung cấp lớn nhất với khoảng 4 tỷ USD trong năm 2025.
Đắk Lắk là vùng trồng sầu riêng lớn của Việt Nam, với sản lượng niên vụ 2026 ước khoảng 500.000 tấn. Sản lượng tập trung thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 11, giai đoạn Việt Nam gần như là nguồn cung chính cho thị trường Trung Quốc.
Trung Quốc hiện chiếm hơn 90% lượng sầu riêng nhập khẩu toàn cầu, còn thị trường này tiêu thụ khoảng 70% sản lượng sầu riêng của Đắk Lắk. Quy mô tiêu dùng lớn tạo ra cơ hội, nhưng diễn biến giá cho thấy lượng hàng đi vào thị trường không quyết định giá trị của hàng hóa.
Kim ngạch tăng nhưng giá không đi cùng
Giá bán sỉ sầu riêng Monthong loại A của Việt Nam tại Trung Quốc đã giảm từ 36,5 nhân dân tệ xuống 13 nhân dân tệ mỗi 0,5kg trong ba tháng. Mức giảm này diễn ra trong lúc kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng.
Theo dữ liệu ngành, giá xuất khẩu bình quân của sầu riêng Việt Nam thấp hơn khoảng 15% so với sầu riêng Thái Lan. Tại các chợ đầu mối Trung Quốc, giá bán sỉ còn biến động theo mùa vụ và có thời điểm giảm hơn 60% trong vài tháng khi nguồn cung tăng.
Ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, nhấn mạnh rằng “mã số vùng trồng không phải thương hiệu và cũng không bảo đảm sầu riêng sẽ được mua với giá cao hơn”. Theo ông, đây chỉ là điều kiện cần để sản phẩm đủ tư cách xuất khẩu.
Tính đến cuối tháng 7/2026, cả nước có 1.201 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói được cấp. Ngoài ra, 1.166 mã số khác đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt.
Số lượng mã số tăng, nhưng quan hệ giữa vùng nguyên liệu và doanh nghiệp thu mua, theo ông Trung, vẫn “chưa thực sự ổn định”. Khi giá từ 60.000 đồng/kg tăng lên 70.000 đồng/kg, nông dân có thể dừng bán cho đối tác cũ, trong khi doanh nghiệp chịu rủi ro nếu giá giảm nhưng vẫn phải thực hiện việc thu mua.
Ông Thạch Minh Huy, Chủ tịch Tập đoàn Giống cây trồng Trung Nông Thịnh Nguyên, cho biết một số nhà đầu tư đã thua lỗ vì thông tin về vùng trồng, giá cả và kênh bán hàng thiếu minh bạch, cùng với quá nhiều khâu môi giới trung gian. Doanh nghiệp này sở hữu khoảng 1.800 chuỗi bán lẻ tại Trung Quốc.
Cuối tháng 7, thị trường Ấn Độ với 1,4 tỷ dân mở cửa cho sầu riêng tươi Việt Nam, tạo thêm một hướng đa dạng hóa thị trường. Nhưng tại Trung Quốc, nơi vẫn còn khoảng một tỷ người chưa từng ăn sầu riêng, vấn đề không chỉ là đưa thêm hàng vào mà là xây dựng liên kết ổn định và một thương hiệu có thể giữ giá.
Ông Trung và ông Húc cùng cho rằng liên kết dài hạn, “cùng có lợi và cùng chia sẻ rủi ro” giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp xuất khẩu là điều cần thiết. Mã số vùng trồng có thể mở cửa thị trường, nhưng giá trị lâu dài vẫn phụ thuộc vào cách
Vũ Quyến (tổng hợp).