Tại buôn Du, xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai, bà Hiao H’Yim tìm lại được anh trai ruột Hồ Quang Sách sau hơn nửa thế kỷ thất lạc trong cuộc chạy loạn năm 1975.

Cuộc đoàn tụ diễn ra tại nhà bà H’Yim vào cuối tháng 05/2026, sau khi ông Hồ Quang Sách, 63 tuổi, từ Quảng Ngãi tìm đến nhờ thông tin đăng trên mạng xã hội. Trước đó, bà H’Yim đã sống hơn 51 năm mà không biết cha và anh trai còn sống hay đã mất trong dòng người tháo chạy trên Đường số 7.

Giữa tháng 3/1975, sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, Bộ tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu II của quân đội Việt Nam Cộng hòa chọn rút lui theo Đường số 7, nay là Quốc lộ 25. Con đường ít người qua lại này nhanh chóng trở thành nơi hàng nghìn gia đình ly tán trong hỗn loạn.

Trong dòng người đó có cô bé Hồ Thị Diễm, khi ấy vừa học xong lớp 2. Tại một con suối lớn trên đường chạy loạn, mẹ và chị gái của Diễm trúng đạn tử vong; người cha đắp áo lên thi thể hai mẹ con rồi dẫn con trai lớn là Hồ Quang Sách rời đi, không rõ vì lý do gì. Diễm cùng hai em nhỏ, một đứa vừa biết đi và một đứa vừa biết ngồi, bị lạc mất cha giữa đám đông. “Tôi bế em Nhật trên tay, còn Thiện lẽo đẽo đi theo. Gia đình tôi lạc mất nhau giữa dòng người hỗn loạn. May mắn ba chị em tôi được một gia đình người Jrai ở buôn Du đưa về cưu mang, nuôi dưỡng”, bà H’Yim kể lại.

Ba chị em được đưa về một ngôi làng dưới cầu Lệ Bắc, cách nơi gia đình từng sinh sống khoảng 140km. Người em út qua đời không lâu sau đó. Diễm và người em còn lại được đặt tên theo người Jrai, lần lượt thành Hiao H’Yim và Hiao H’Thiên; ông H’Thiên qua đời khi còn trẻ, sau khi đã lập gia đình và có con. Sống giữa cộng đồng người Jrai, bà H’Yim xem buôn làng là quê hương thứ hai, nhưng việc tìm lại người thân vẫn là điều bà không nguôi mong mỏi.

Người mở ra manh mối là ông Nguyễn Quang Tuệ, trú phường Pleiku, người nhiều năm ghi chép các câu chuyện thất lạc trên Đường số 7 và đăng tải qua kênh YouTube “Tuệ Pleiku – Đi và kể” cùng mạng xã hội Facebook. Chỉ vài giờ sau khi câu chuyện của bà H’Yim được phát, một cuộc gọi từ Quảng Ngãi đã liên hệ với thông tin trùng khớp; gương mặt bà H’Yim cũng được nhận ra là giống ông Sách. Ông Tuệ cùng mọi người sau đó xác minh và kết nối hai anh em.

Về phần mình, ông Sách và cha đã nhiều lần trở lại Đường số 7, sang Buôn Ma Thuột và một số nơi ở Lâm Đồng cũ để tìm em trong suốt nhiều năm, đồng thời từng gửi thư nhờ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của Đài truyền hình Việt Nam hỗ trợ nhưng không có kết quả. “Lúc thất lạc Diễm, tôi khi ấy 13 tuổi. Sau tháng 3/1975 tôi và cha nhiều lần quay lại Đường 7, sang Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), một số nơi của tỉnh Lâm Đồng (cũ)… Hễ nghe ở đâu có trẻ thất lạc trong độ tuổi của các em, hai cha con lại tìm đến. Nhưng tất cả đều không cho thông tin khả quan”, ông Sách nói. Nỗi day dứt đó kéo dài cho đến khi cha ông qua đời mà chưa tìm được con.

Theo ông Tuệ, phần lớn trẻ thất lạc trong đợt di tản tháng 3/1975 được người Jrai nuôi dưỡng thường được đặt tên theo vần với người thân, theo nơi tìm thấy hoặc theo vật dụng đi kèm khi được phát hiện; một số tên còn mang ý nhắc đến nguồn gốc người Kinh hoặc việc bị bỏ lại. Riêng trường hợp bà H’Yim giữ được gần đúng tên gốc là do khi đó bà đã biết chữ.

Người có công nuôi dưỡng bà H’Yim suốt hơn nửa thế kỷ, bà Hiao Buôn, sinh năm 1958, cũng xúc động khi em gái nuôi tìm lại được gia đình ruột thịt. “Nó mãi là em của mình và mình cũng mãi là chị của nó. Giờ đây mọi người trong gia đình ngày thêm đông, mình vui lắm”, bà Buôn chia sẻ.

Ông Nguyễn Quang Tuệ cho biết trường hợp bà H’Yim là một trong khoảng mười câu chuyện thất lạc đặc biệt mà ông cùng cộng sự ghi nhận được. Mục đích của loạt video, theo ông, không chỉ để tìm người thân mà còn để cho thấy những đứa trẻ thất lạc năm ấy đã sống và trưởng thành ra sao sau nửa thế kỷ. Trong hàng trăm trường hợp được ghi nhận, số người tìm lại được gia đình chỉ là số ít; phần lớn vẫn tiếp tục cuộc sống ở nơi đã nuôi dưỡng họ khôn lớn.

Hà Lê (tổng hợp)