Thứ Tư , 20 Tháng Mười 2021

Không cách ly hay tiêm phòng, người xưa chống dịch bệnh bằng cách nào?

15/09/21, 09:02
Không cần cách ly hay tiêm phòng
Không dùng biện pháp cách ly hay tiêm phòng, người xưa phòng dịch bằng cách nào? (ảnh tổng hợp).

Đại dịch hoành hành, làm sao để trốn thoát? Con người hiện đại thường dựa vào các biện pháp phòng hộ ở tầng diện vật chất và kỹ thuật – dựa vào các biện pháp cách ly và tiêm phòng. Nhưng vào thời xưa, mọi người cơ bản không có khái niệm cách ly hay tiêm phòng như y học hiện đại, vậy mà dịch bệnh lây lan vẫn có rất nhiều người không bị nhiễm bệnh, nguyên nhân là do đâu?

Dịch bệnh cuối thời nhà Hán

Từ cuối thời Đông Hán cho đến đầu thời nhà Tấn, mảnh đất Trung Hoa đã trải qua hàng chục lần đại ôn dịch nghiêm trọng. Trong suốt 20 năm tại vị của Hán Hoàn Đế, tần suất ôn dịch xuất hiện rất cao tới 12 lần. Thời Hán Linh Đế xảy ra một lần, thời Hán Hiến Đế xảy ra hai lần. Trong kinh thành Lạc Dương có tới 16 lần xảy ra ôn dịch. 

Theo ghi chép chính thức, từ năm Vĩnh Thọ thứ ba thời Hán Hoàn Đế (năm 157) đến năm Thái Khang đầu tiên thời Tấn Vũ Đế (năm 280), dân số từ 56,5 triệu nhân khẩu giảm xuống còn hơn 16 triệu. Trong “Tống Thư – Ngũ Hành Chí” chép rằng, vào tháng Giêng mùa xuân năm Hàm Ninh thứ hai, đại dịch ở Lạc Dương khiến 100.000 người tử vong, cơ cấu nhà nước không thể hoạt động bình thường; buộc Hoàng đế phải hạ chiếu hủy bỏ tất cả các nghi lễ, lễ tiết. 

Bệnh dịch cuối thời Đông Hán có ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của binh sĩ trong quân đội. Theo ghi chép trong “Tư Trị Thông Giám”, mùa xuân tháng Ba năm Diên Hi thứ năm thời Hán Hoàn Đế, trong trận Hoàng Phủ quy phạt dân tộc Khương, quân đội đã xảy ra đại ôn dịch khiến 30-40% binh sĩ tử vong. 

Trong trận Xích Bích nổi tiếng, ảnh hưởng của ôn dịch đã làm thay đổi tình hình chiến sự. Sách “Tam Quốc Chí – Ngụy Thư – Vũ Đế kỷ” chép: “Tào Công đánh trận Xích Bích cùng với Lưu Bị, bất ngờ gặp đại dịch, quân sĩ chết nhiều, phải rút quân trở về”.

Ôn dịch thời xưa thường được gọi là thương hàn

Theo ghi chép chính thức, từ năm Vĩnh Thọ thứ ba thời Hán Hoàn Đế (năm 157) đến năm Thái Khang đầu tiên thời Tấn Vũ Đế (năm 280), dân số từ 56,5 triệu nhân khẩu giảm xuống còn hơn 16 triệu
Theo ghi chép chính thức, từ năm Vĩnh Thọ thứ ba thời Hán Hoàn Đế (năm 157) đến năm Thái Khang đầu tiên thời Tấn Vũ Đế (năm 280), dân số từ 56,5 triệu nhân khẩu giảm xuống còn hơn 16 triệu (ảnh SOH)

Cuối triều nhà Hán, ôn dịch được gọi chung là ‘thương hàn’. Các học giả sau này cho rằng đó là bệnh sốt phát ban và dịch hạch. Bệnh nhân thường bị sốt cao, thở dốc, hụt hơi rồi sau đó qua đời. Khi bệnh khởi phát cấp tính, trên thân xuất hiện ban đỏ, tỷ lệ tử vong cao. 

Trong “Thương Hàn Luận”, Thánh y Trương Trọng Cảnh viết rằng, khi dịch bệnh xảy ra dưới thời Hán Hiến Đế, gia tộc của ông vốn có hơn 200 người thì tử vong hai phần ba, trong đó bảy phần chết vì bệnh thương hàn. 

Năm Kiến An thứ 22, sách “Hậu Hán Thư – Hiến Đế ký” có ghi chép về một năm đại dịch. Trong phần dẫn “Ngụy Thư” của “Tam Quốc Chí – Ngụy thư – Vũ Đế ký” viết rằng, mùa đông năm 217 trời giáng bệnh dịch ác tính, khiến cho bách tính tử vong, tàn héo. Bốn nhân sĩ là Từ Can, Trần Lâm, Ứng Sướng, Lưu Tinh nổi tiếng là “thất tử Kiến An” cũng qua đời trong trận đại dịch này. 

Dịch bệnh là do khí tà làm loạn, cách ly hay tiêm phòng chỉ tác động được ở bề ngoài

Người hiện đại cho rằng ôn dịch là loại bệnh có quy mô lớn do virus gây ra. Đây là nhận thức về ôn dịch trong phạm vi không gian và thời gian mà khoa học hiện đại có thể phát hiện được. Nhưng vào thời cổ đại, nhận thức và hiểu biết của người xưa đối với dịch bệnh không chỉ giới hạn ở tầng diện vật lý và sinh học, mà còn có sự hiểu biết rộng lớn và sâu sắc hơn. 

Trong “Thuyết Văn Giải Tự” viết: Bệnh nào có thể lây ra nhiều người thì đều được gọi là ‘dịch’. Vào thời Tần Hán và các triều đại trước đây, có hai cách giải thích về dịch bệnh như sau:

Một là khí tà làm loạn. Trong “Xuân Thu phồn lộ – Nhân phó thiên sổ”, Đổng Trọng Thư viết: “Thiên khí ở trên, địa khí ở dưới, nhân khí ở giữa”. Học thuyết về sự tác động qua lại giữa trời và đất của Đổng Trọng Thư chỉ ra rằng, nếu như vua tôi quân thần xa rời đức, làm trái thiên lý, thì trời sẽ giáng thiên họa; nhắc nhở quân vương phải quy chính. Nếu không quy chính thì đại nạn giáng xuống sẽ không thể vãn hồi.  

Khi ôn dịch phát sinh thì quân vương phải tự xét lỗi ở mình

Khi ôn dịch phát sinh thì quân vương phải tự xét lỗi ở mình
Khi ôn dịch phát sinh thì quân vương phải tự xét lỗi ở mình (ảnh SOH)

Ông Hà Hưu, một học giả nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của Nho giáo thời Hán từng nói: “Một trong những nguyên nhân gây ra dịch bệnh là khí tà làm loạn”. Vì vậy, khi ôn dịch phát sinh mang tính lây lan, hầu hết các vị vua sẽ tự xét lại việc cầm quyền trị nước của mình: Bậc quân vương đã đủ thanh liêm, làm đúng đạo trời chưa? Liệu có phải là vua gần tiểu nhân mà xa rời hiền thần? Liệu có phải vì vua ngang ngược, giết chóc bạo lực mà gây khổ nạn cho bách tính muôn dân?

Theo thống kê của một số học giả, từ thời Tây Hán và Đông Hán đến những năm triều đại nhà Thanh, các quân vương cứ chưa tới mười năm lại ban bố “Tội kỷ chiếu” với thiên hạ. “Tội kỷ chiếu” trên thực chất chính là lời sám hối của người đứng đầu quốc gia về những lỗi lầm đã qua; và là bản tự kiểm điểm xin tạ lỗi với muôn dân. Đồng thời còn là thệ ước với Thần Phật và bách tính rằng từ nay vua sẽ quyết tâm sửa chữa lỗi lầm. 

Dịch bệnh là do ma quỷ gây ra, cách ly liệu có tác dụng?

Một cách giải thích khác cho rằng ôn dịch là loại bệnh do ma quỷ gây ra. Theo “Hán Cựu Nghi”, Chuyên Húc có ba người con trai; sau khi chết trở thành dịch quỷ (quỷ dịch bệnh). Người ta tin rằng ôn dịch có quy mô lớn là do ác quỷ ở âm gian hoành hành. 

Để loại bỏ ôn dịch, có một nghi thức là xua đuổi dịch quỷ. Để thực hiện nghi thức này thì cần phải thỉnh mời các vị Thần hay những người tôn kính Thần Phật; hoặc những người có đạo đức cao thượng tham dự. Bởi vì “nhất chính áp bách tà”, chỉ những bậc Thánh giả, cao tăng, hoặc bậc đại đức đại hạnh mới có đủ uy đức để xua đuổi tà ma. 

Trương Thiên Sư dạy người sám hối để tránh dịch thay vì cách ly hay tiêm phòng

Không cần cách ly hay tiêm phòng
Sám hối và sửa chữa để tránh ôn dịch (ảnh SOH)

Trương Thiên Sư tên là Trương Lăng, sau đổi thành Trương Đạo Lăng, là người huyện Phong nước Bái (nay là huyện Phong tỉnh Giang Tô). Ông cũng đồng thời là người sáng lập Thiên Sư Đạo. Tương truyền vào năm 142 thời Hán Thuận Đế, ông gặp Lão Tử và được truyền thụ “Thái Bình động cực kinh”; đặt tên là Thiên Sư. Hậu thế sau này gọi ông là một trong ba sư tổ sáng lập Đạo giáo; sống thọ tới 123 tuổi. Sau đó ở núi Cừ Đình tỉnh Tứ Xuyên mà bay về trời. 

Sau khi tu Đạo, Trương Đạo Lăng có khả năng trị bệnh cứu người. Tại đất Thục nơi người dân sống giản dị, mộc mạc và thuần phác; ông đã thu nhận hàng chục nghìn đệ tử. Ông luôn dùng đạo đức và lễ nghĩa để dẫn dắt và điều chỉnh hành vi của học trò; từ đó nâng cao cảnh giới tư tưởng cho họ. Khi đó cũng đúng vào thời điểm ôn dịch hoành hành, Trương Đạo Lăng giúp người trị bệnh, phương pháp vô cùng độc đáo đặc biệt. 

Trương Đạo Lăng yêu cầu người nhiễm bệnh nhớ lại tất cả những lỗi lầm đã phạm trong cuộc đời; dùng bút viết hết ra và hướng tới Thần Linh mà thề nguyện; rằng từ nay về sau sẽ không làm những điều sai trái và tồi tệ đó nữa. Nếu còn tiếp tục phạm lỗi, họ hứa với bản thân rằng sẽ tự kết thúc cuộc đời mình. Mọi người đều làm theo cách của ông, quả nhiên ôn dịch biến mất. Bách tính một đồn mười, mười đồn trăm, làm dịch bệnh nhanh chóng biến mất. 

Thần y Hoa Đà trị bệnh cực kỳ độc đáo

Nhiều danh y thời cổ đại kỳ thực đều là người tu Đạo có công phu cao thâm. Hoa Đà, danh y nổi tiếng thời Tam Quốc là người có công năng đặc dị mà người thường không có. Phương pháp trị bệnh của ông cũng rất độc đáo:

Có một quận trưởng lâm trọng bệnh, phải nhờ đến Hoa Đà chữa trị. Sau khi thăm khám, ông chỉ lẳng lặng bước ra ngoài nói với con trai quận trưởng: “Bệnh của cha cậu khác với những bệnh thông thường, có ứ huyết ở trong bụng; cần phải khiến ông ấy tức giận mà thổ huyết ứ đó ra mới có thể khỏi bệnh; nếu không sẽ mất mạng”.

Người con trai cũng rất lo lắng, hỏi danh y nên làm gì. Hoa Đà nói: “Cậu có thể nói cho tôi biết những điều sai trái và tồi tệ mà cha cậu từng làm không? Tôi sẽ viết một bức thư phê bình và chỉ trích ông ấy”.

Người con trai quận trưởng nói: “Nếu có thể trị khỏi bệnh cho cha, không việc gì là không thể”. Sau đó anh ta kể với Hoa Đà tất cả những việc làm sai trái mà cha từng làm trong thời gian dài vừa qua. Hoa Đà viết một bức thư khiển trách quận trưởng và rời đi. Sau khi nhận được thư, quận trưởng tức giận liền phái người lùng bắt Hoa Đà; nhưng vì ông đã sớm rời đi nên không thể bắt được. Quận trưởng sau đó lại càng giận dữ hơn, thổ ra rất nhiều máu đen; sau đó bệnh cũng hoàn toàn biến mất. 

Công năng ‘túc mệnh thông’ của Thánh y Trương Trọng Cảnh

Nhiều danh y thời xưa đều có công năng đặc dị
Nhiều danh y thời xưa đều có công năng đặc dị (ảnh Y học hiện đại)

Cuối thời Đông Hán bệnh dịch hoành hành vô cùng dữ dội; nhưng may mắn có Đạo nhân và danh y xuất hiện cứu thế. Trương Trọng Cảnh là một trong những người như thế, ông đã cứu chữa vô số người; được mệnh danh là Thánh y một thời. Trương Trọng Cảnh không chỉ có tài trị bệnh mà còn có công năng ‘túc mệnh thông’ siêu thường. (Túc mệnh thông là khả năng nhìn thấy tường tận quá khứ, hiện tại, tương lai của một cá nhân). 

Chuyện kể rằng Trương Trọng Cảnh từng đi đến rất nhiều kinh thành để trị bệnh cứu người. Bởi y thuật cao siêu nên ông được nhiều nhân sĩ kính trọng. Nhà văn nổi tiếng thời Đông Hán là Vương Xán cũng là một trong số đó; mỗi lần nghe tin Thánh y về kinh đô là ông lại tới chào hỏi chuyện trò.

Sau nhiều lần gặp mặt, Trương Trọng Cảnh biết rằng Vương Xán đang mắc một loại bệnh nan y, đó là bệnh phong. Trong tâm ông phân vân do dự: “Nói với Vương Xán liệu ông ấy có chấp nhận không? Nhưng không nói thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng”. Suy đi tính lại, cuối cùng ông quyết định sẽ nhẹ nhàng lựa lời nói với người bệnh.

Một ngày nọ, Vương Xán lại đến. Sau một hồi đàm đạo Trương Trọng Cảnh nói: “Trong người ông đang tiềm ẩn một loại bệnh; chữa trị sớm sẽ khỏi. Nếu không thì sau này lông mày đều rụng hết, thậm chí còn nguy hiểm đến tính mệnh nữa. Ông nên uống bài thuốc ‘ngũ thạch’ mới có hy vọng”.

Chấp mê bất ngộ, uổng phí một nhân tài

Vương Xán là người rất thông minh, chỉ nói bệnh trạng ông cũng hiểu được đó là căn bệnh gì. Chỉ có điều là ông không tin mình lại mắc chứng bệnh này; cho rằng vị danh y quá lời nên ông chỉ hờ hững đáp và cũng không uống bài thuốc đó.

Một thời gian sau hai người lại có dịp gặp mặt. Trương Trọng Cảnh nhìn khí sắc của Vương Xán lập tức hỏi dồn: “Ông đã uống Ngũ thạch thang chưa?”. Mặc dù rất khó chịu khi bị hỏi bất ngờ, nhưng vì phép lịch sự nên Vương Xán chỉ trả lời một cách qua quýt: “Uống rồi”. Trương Trọng Cảnh quan sát lại khí sắc của người bệnh rồi lắc đầu nói: “Hình như ông chưa uống thuốc. Hãy nghe lời tôi, uống nhanh lên nếu không thì có chuyện đấy”. Nhưng Vương Xán vẫn không tin và nói: “Sức khỏe tôi rất tốt, ông đừng quá lo”. 

Mấy năm sau quả nhiên Vương Xán đổ bệnh; lông mày đều rụng hết và qua đời khi mới 40 tuổi. Trương Trọng Cảnh hay tin, trong lòng vô cùng đau xót và tiếc thương cho một nhân tài còn rất trẻ.

Các bậc danh y thời xưa còn có khả năng "cải tử hoàn sinh"
Các bậc danh y thời xưa còn có khả năng “cải tử hoàn sinh”, vượt xa các biện pháp cách ly hay tiêm phòng của người hiện đại (ảnh DKN)

Đổng Phụng cứu người chết sống lại

Đổng Phụng là một trong ba danh y nổi tiếng thời Tam quốc; từ nhỏ đã tu Đạo, luyện thành thuật trường sinh bất lão. Trong “Thần Tiên truyện” của Cát Hồng sống vào triều Tấn có ghi chép câu chuyện về y thuật cao siêu của ông.

Một năm nọ, một người bạn của Đổng Phụng là Thứ sử Giao Châu Đỗ Tiếp vì trúng độc mà qua đời. Ba ngày sau, ông biết tin và tới thăm viếng. Sau khi khám nghiệm tử thi, ông bèn lấy ba viên thuốc bỏ vào miệng người chết. Sau đó bảo người nhà đỡ dậy, lắc lắc phần đầu để thuốc xuống bao tử. Không lâu sau Đỗ Tiếp mở mắt, tay chân bắt đầu cử động, da dẻ dần hồng hào trở lại. Chưa đến nửa ngày đã có thể đi lại, ba bốn ngày sau hoàn toàn bình phục.

Đỗ Tiếp kể lại: “Lúc ấy tôi đang nằm ngủ thì thấy có mấy chục người mặc áo đen kéo tôi lên xe đưa đến một một nơi xa lạ; đi mãi rồi tiến vào đại hồng môn, sau đó đưa tôi đến ngục. Trong đó có nhiều phòng nhỏ khác nhau, mỗi người một phòng, chật đến nỗi chỉ chứa được một người. Căn phòng tôi ở, cửa lớn cửa sổ đều phong kín, nhìn không thấy bất cứ thứ gì bên ngoài. Sau đó bỗng có một người tự xưng là sứ giả được phái đến và bảo tôi đi theo. Tôi liền theo ông ta ra ngoài. Được một lúc mới nhìn thấy một chiếc xe ngựa có lọng đỏ, có ba người ngồi trên xe. Một người tay cầm roi kêu tôi lên xe, khi đến cửa thì tôi tỉnh dậy”.

Không phải cách ly, tôn kính Thần Phật mới là diệu pháp

Nhờ sám hối với Thần Phật mà thoát khỏi ôn dịch; uống đan dược có thể cải tử hoàn sinh… đây đều là những việc mà người hiện đại không muốn tin; thậm chí coi là “mê tín”. Kỳ thực, tiêu chuẩn đạo đức của người cổ đại rất cao; điều nói ra không hề hàm hồ tùy tiện; cũng không tùy ý ghi chép những điều vô căn cứ vào sách sử.

Cổ nhân dạy: “Tiền sự chi bất vong, hậu sự chi sư nghĩa”, tức là việc đời trước không quên, là tấm gương cho việc đời sau. Đối diện với tai họa trước mặt, nếu chúng ta có thể tuân theo giáo huấn của cổ nhân; tôn kính Thần Phật; tự vấn bản thân; có lẽ chúng ta có thể tìm lại được ký ức thâm sâu về ý nghĩa của sinh mệnh khi tới thế gian này. Tín tâm ấy sẽ giúp con người được Thần minh bảo hộ, bình an trải qua kiếp nạn.

Theo Sound of hope/Nguyện Ước

Xem thêm: