Bắc Ninh – Người nuôi cua da tại Bắc Ninh thu hoạch sản lượng đầu vụ cao gần gấp đôi cùng kỳ, nhưng số cua đạt chuẩn loại một vẫn ít, đẩy giá bán lên 650.000-700.000 đồng một kg.

Theo khảo sát thị trường, mức giá này cao hơn khoảng 5% so với cùng kỳ năm ngoái và gần gấp đôi thời điểm cua da bắt đầu được nuôi thương phẩm vào năm 2020. Cua được thu mua chủ yếu từ các đầm ven sông Cầu, thuộc phường Cảnh Thụy và một số khu vực lân cận, nơi mùa vụ cua da năm nay bắt đầu sớm hơn thường lệ.

Cua da khác cua đồng ở lớp lông mịn phủ chân, càng và yếm, được người dân gọi là cua da, cua ra hoặc cà ra. Cua loại 1 hiện bán 650.000-700.000 đồng một kg, trong khi cua canh chỉ 170.000-180.000 đồng một kg.

Chênh lệch giá giữa hai loại phản ánh đúng sự khan hiếm của nguồn cung đạt chuẩn. Lượng cua thu mua đầu vụ năm nay tăng gần gấp đôi cùng kỳ, nhưng số cua đạt chuẩn loại 1 – cỡ 6-8 con một kg, chọn từ con già, thịt chắc, nhiều gạch – vẫn không tăng tương ứng.

Chị Phương, đầu mối kinh doanh cua da gần 20 năm tại Bắc Giang cũ, nay Bắc Ninh, cho biết có hôm đi gom cả ngày không được con nào. “Hôm nhiều cũng chỉ hơn 10 kg”, chị nói, trong khi lượng khách đặt lại nhiều.

Anh Tuấn, một đầu mối khác tại Bắc Giang cũ, cho biết cua da vài năm gần đây không chỉ tiêu thụ trong tỉnh mà còn được khách từ Hà Nội và nhiều địa phương khác đặt mua. Đầu mùa, nhiều người phải đặt trước một đến hai ngày mới có cua ngon để biếu tặng hoặc đãi khách.

Việc phân loại cua chủ yếu dựa vào kinh nghiệm quan sát màu sắc, độ đanh của mai và độ già của cua, nên người không quen việc rất khó nhận biết. Đây cũng là lý do khiến nguồn cua loại 1 luôn hẹp hơn tổng sản lượng thu mua.

Trước đây, cua da chủ yếu được đánh bắt tự nhiên tại các khe đá, hốc ven sông Cầu, với mùa vụ ngắn từ tháng 8 đến tháng 11. Nguồn tự nhiên ngày càng khan hiếm khiến người dân chuyển sang nhân giống, nuôi thương phẩm tại các đầm ven sông; mỗi lứa cua phải nuôi hơn một năm mới có thể thu hoạch.

Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh, cho biết tỉnh đã triển khai một số mô hình nuôi và hỗ trợ người dân về kỹ thuật để phát triển cua da theo hướng hàng hóa. Nhờ đã có thương hiệu và thị trường tiêu thụ ổn định, mô hình mang lại hiệu quả kinh tế khá tốt.

Tuy nhiên, địa phương không định hướng mở rộng diện tích nuôi bằng mọi giá. Sở khuyến khích phát triển ở quy mô hợp lý, vừa duy trì chất lượng đặc sản, vừa bảo đảm môi trường nuôi – giới hạn này giải thích vì sao nguồn cung loại 1 khó tăng nhanh dù nhu cầu thị trường đang lớn hơn khả năng đáp ứng.

Anh Tuấn dự báo phải từ khoảng tháng 9 trở đi, khi sản lượng cua đạt chất lượng nhiều hơn, nguồn hàng mới dồi dào và giá mới có thể hạ nhiệt.

Bạch Xoan (tổng hợp)