Gạo Việt vẫn loay hoay với thị trường cũ, bỏ ưu đãi thuế 0% từ các hiệp định thương mại dù khả năng xuất khẩu sang các thị trường cao cấp rất lớn.
- Cháy chung cư Hà Nội: Giải cứu ba người mắc kẹt tại tòa nhà Trường Chinh
- Cựu bảo vệ trường tiểu học tại TP HCM hầu tòa vì cáo buộc xâm hại hai chị em
- Quan hệ Việt Nam – Ý: Thúc đẩy phê chuẩn hiệp định đầu tư
Xuất khẩu gạo Việt Nam tập trung vào các thị trường thuế suất cao
Dù mỗi năm sản lượng xuất khẩu gạo ra thế giới đạt mức từ 8 đến 9 triệu tấn, phần lớn Việt Nam hiện vẫn đang đối mặt với một nghịch lý lớn trong việc lựa chọn thị trường tiêu thụ. Một phần sản lượng lớn, sử dụng khoảng 60%, hiện đang tập trung vào hai đối tác là Philippines và Indonesia, hai quốc gia này áp dụng thuế nhập khẩu ở mức 35% và 25%. Trong khi đó, các thị trường nằm trong Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với ưu đãi thuế hiệu suất 0% vẫn chưa được doanh nghiệp nội địa khai thác một cách hiệu quả hướng đến tương lai với tiềm năng thực tế.
Số liệu thống kê cho thấy, dù Việt Nam đã tham gia khoảng 20 FTA và có 16 Hiệp định đang trong giai đoạn thực thi thời hạn, khả năng tận dụng các ưu đãi thuế quan vẫn rất hạn chế. Tại thị trường thuộc khối CPTPP, Canada đang áp dụng thuế 0% cho gạo Việt, trong khi Mexico áp dụng 0% cho các sản phẩm từ gạo và 10% đối với gạo nguyên liệu. Đặc biệt, theo cam kết trong Hiệp định EVFTA, Liên minh châu Âu dành cho Việt Nam hạn ngạch miễn phí tăng lên 80.000 tấn mỗi năm, tuy nhiên cơ hội quý giá này vẫn chưa được doanh nghiệp tận dụng hết công suất để tăng giá trị kim ngạch.
Việc ưu tiên các thị trường như Philippines và Indonesia chủ yếu xuất phát từ yếu tố địa lý gần gũi, thủ tục nhập khẩu đơn giản và nhu cầu tiêu thụ thực tế luôn ở mức cao. Tuy nhiên, sự phụ thuộc này đưa doanh nghiệp vào thế bị động khi phải chấp nhận biên lợi nhuận thấp và chịu rủi ro trực tiếp từ những biến động thất thường của cả thị trường. Nhiều trường hợp doanh nghiệp đã phải chịu lỗi khi xuất khẩu sang Philippines, đồng thời áp lực về giá thường bị chuyển dịch sang nông dân, gây ảnh hưởng đến sự ổn định bền vững của toàn chuỗi sản xuất.
Những rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật và thiếu liên kết chuỗi
Nguyên nhân cốt lõi gạo Việt chưa thể bứt phá tại các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản không chỉ nằm ở bài toán thuế quan mà còn ở rào cản kỹ thuật kỹ thuật sâu khe. Theo đại diện doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, các thị trường này Yêu cầu quy trình sản xuất phải được kiểm soát hạn chế với các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Phần lớn các đơn vị trong nước hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này, dẫn đến việc quay lại với các thị trường “dễ tính” này như một giải pháp tình huống để giải phóng sản lượng.
Thêm vào đó, cấu trúc ngành lúa gạo hiện nay vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, sản phẩm phân tán và thiếu liên kết chặt chẽ giữa nông dân với các đơn vị xuất khẩu. Việc đầu tư cho hạ tầng công nghệ, xây dựng thương hiệu quốc tế và tiêu chuẩn hóa chất lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế, tạo sức mạnh cạnh tranh của hạt gạo Việt tại phân khúc cao cấp chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Nhiều doanh nghiệp vẫn giữ thói quen xuất khẩu theo đơn hàng có sẵn dưới hình thức giao hàng lên tàu (FOB) mà chưa xây dựng chiến lược dài hạn để tiếp cận trực tiếp các ưu đãi thuế quan.
Tính đến hết quý 1 năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 2,6 triệu tấn gạo, trong đó Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ với cường độ tăng trưởng 2,25 lần cùng kỳ năm. Mặc dù giá gạo thế giới đang có xu hướng tăng, đặc biệt là gạo thơm tăng khoảng 15 USD/tấn, nhưng đại gia vẫn khuyến mãi ngành gạo cần thay đổi mạnh mẽ phương thức tiếp theo thị trường. Để tránh rơi vào bẫy giá trị gia tăng thấp, việc chuyển đổi sản phẩm sản xuất quy mô lớn, chú ý chất lượng và tận dụng triệt để các ưu đãi từ FTA là con đường tất yếu để phát triển bền vững.
Theo: Báo Thanh Niên