Khánh Hòa – Trong hơn một thập kỷ, đội ngũ kỹ thuật của Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình duy trì công việc chăm sóc đàn bò tót lai để giữ lại một nguồn gene hiếm có nguy cơ biến mất.
- Hai chú cháu bị truy tố vì xâm hại người họ hàng khuyết tật
- Thuốc điều trị ung thư giá cao tạo áp lực lớn lên quỹ bảo hiểm y tế
- Xác tàu bỏ hoang gây cản trở luồng tuyến tại cửa biển Lạch Vạn
Sáng cuối tháng 7, anh Bình Tô Hà Lúc, 28 tuổi, công nhân của vườn quốc gia, đẩy xe rơm và cỏ tươi qua vườn thực vật rộng hơn 4 ha ở xã Bác Ái Tây, nơi đàn bò tót lai đang sinh sống. Đây là công việc anh đảm nhận hơn một năm nay, cùng ba cán bộ kỹ thuật khác thay phiên giám sát, nhằm bảo tồn nguồn gene quý hiếm trước nguy cơ mai một khi đàn bò ngày một già đi.
Hà Lúc trở thành người chăm sóc đàn bò tót lai sau khi được người thân giới thiệu. Ban đầu anh e ngại vì biết đây là loài vốn hung dữ, nhưng nhờ kinh nghiệm chăn bò từ nhỏ, anh nhanh chóng nhận ra việc cho bò tót ăn không khác nhiều so với bò nhà.
Mỗi ngày anh phụ trách cho đàn ăn ba bữa, mỗi bữa gồm sáu cuộn rơm và bốn xe cỏ tươi. Sau hơn một năm, đàn bò dần quen với sự xuất hiện của anh. “Cho ăn nhiều chúng cũng quen dần”, Hà Lúc nói, dù vẫn phải giữ khoảng cách nhất định để không ảnh hưởng tới tập tính hoang dã của chúng.
Bò tót (gaur), thuộc họ Bovidae, có bộ lông sẫm màu và kích thước lớn, phân bố chủ yếu ở Ấn Độ và Đông Nam Á. Loài này nằm trong Sách Đỏ, được pháp luật bảo vệ và cấm săn bắt.

Đàn bò tót lai hiện có 10 con, gồm 9 con thế hệ F1 từ 13 đến 16 tuổi và một con F2. Nguồn gốc của chúng bắt đầu từ năm 2009, khi một con bò tót đực nặng gần một tấn thường xuyên xuất hiện tại khu nương rẫy thôn Bậc Rây 2, xã Phước Bình, huyện Bác Ái (Ninh Thuận cũ), nay là xã Bác Ái Tây thuộc Khánh Hòa.
Ban ngày con bò tót sống ven rừng, chiều tối nhập đàn bò nhà của người dân để kiếm ăn, và dần giao phối với bò cái nhà, tạo ra những cá thể lai đầu tiên. Đến năm 2014, khi con bò tót đực chết, đàn con lai F1 của nó trong các hộ dân xã Phước Bình đã lên tới hơn 20 con, mang vóc dáng và tập tính hoang dã gần như bò rừng.
Năm con đực và năm con cái thế hệ F1 được mua lại từ người dân để phục vụ nghiên cứu và nhân giống, với kỳ vọng tạo ra hàng loạt đàn bò tót F2, mở hướng đi mới cho ngành chăn nuôi. Tuy nhiên đến nay, cả năm con cái trong đàn vẫn chưa thể sinh sản.
Riêng một cá thể đực F1 khi được thả rong đã tình cờ giao phối với một con bò cái nhà, sinh ra một bê cái. Hai năm trước, con lai F2 này được dự án mua lại và đưa vào trại khảo nghiệm.
Từ năm 2013 đến nay, ba đề tài khoa học cấp Nhà nước liên tiếp được triển khai trên đàn bò này: nghiên cứu giám định di truyền và khả năng phát triển giai đoạn 2013-2015, khai thác và phát triển nguồn gen giai đoạn 2015-2019, và bảo tồn, sử dụng bền vững nguồn gen bò tót lai F1 giai đoạn 2021-2025.
Thạc sĩ Nguyễn Anh Tuấn, cán bộ Ban Quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình, cho biết trong giai đoạn nghiên cứu trước đây, có thời điểm đàn bò suy giảm thể trạng nghiêm trọng, gầy trơ xương do điều kiện nuôi nhốt chưa phù hợp, thiếu không gian vận động, thiếu thức ăn và công tác thú y không được duy trì ổn định.
Đến giai đoạn 2021-2025, đàn bò được chuyển đổi thành tài sản công và giao cho Vườn quốc gia Phước Bình tiếp nhận. Các cán bộ điều chỉnh khẩu phần ăn, duy trì tiêm phòng và chăm sóc sức khỏe định kỳ, đồng thời mở rộng chuồng trại để đàn bò giữ được tập tính hoang dã.
Ông Tuấn cho biết những cá thể đực trong đàn thường xuyên đánh nhau, gây ra nhiều vết thương, nên cán bộ phải tự chế gậy nối dài để phun và bôi thuốc, tránh đến gần làm ảnh hưởng tập tính hoặc gây nguy hiểm. Khi cần tiêm, bò phải được lùa vào chuồng rồi dùng dụng cụ đặc chế để chích thuốc. “Việc chăm sóc nhưng phải giữ khoảng cách có chút bất tiện, nhưng đảm bảo an toàn giữa người chăm sóc và đàn bò”, ông Tuấn nói.
Đến nay, đàn bò tót lai đã thích nghi tốt với môi trường sống mới, phần lớn có vóc dáng khỏe mạnh và vẫn giữ đặc tính hoang dã gần như bò rừng. Theo ông Tuấn, dù thời tiết trên vườn quốc gia thường có mưa lớn, đàn bò vẫn được chăm sóc ổn định nhờ hệ thống chuồng trại đầy đủ, được vệ sinh sạch sẽ và nguồn thức ăn luôn bổ sung; vào ngày nắng, chúng được thả ra khu vườn thực vật rộng lớn.
“Sức khỏe đàn bò có sự ổn định như hiện nay là nhờ sự túc trực thường xuyên của các cán bộ kỹ thuật, bởi nếu lơ là, chỉ cần một cá thể bỏ ăn vài ngày là thể trạng chúng sẽ xuống rất nhanh”, ông Tuấn nói.
Theo ông Tuấn, hiện tượng lai giữa bò tót và bò nhà rất hiếm gặp, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới; các nghiên cứu trước đây khẳng định bò cái lai thế hệ thứ nhất vẫn có khả năng sinh sản, tạo ra thế hệ mang 25% nguồn gen bò tót. Tuy nhiên ông thừa nhận: “Khả năng ứng dụng nhân đàn ở giai đoạn hiện tại nên được xem là tiềm năng nhưng vẫn còn hạn chế về mặt di truyền học và cần nghiên cứu sâu hơn. Nếu mất đàn bò lai này xem như mất đi một nguồn gene quý hiếm và không bao giờ có lại được”, ông Tuấn nói.
Trước thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và năng lực chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu sinh sản chuyên sâu, ông Tuấn cho rằng việc phối hợp với doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và các viện chăn nuôi là cấp thiết. Đàn bò tót lai hiện đều ở độ tuổi 13-16, đồng nghĩa khả năng sinh sản sẽ giảm dần theo thời gian.
Khu chăn nuôi đàn bò tót lai hiện cũng trở thành điểm đến thu hút học sinh, sinh viên và du khách tham quan, tìm hiểu, góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn loài bò tót nói riêng và đa dạng sinh học nói chung.
Đại diện Ban quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình cho biết đơn vị đã tạm ứng kinh phí để bổ sung thức ăn cho đàn, song năng lực tài chính còn hạn chế nên chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc và nghiên cứu. Ban quản lý đang đề xuất UBND tỉnh Khánh Hòa tiếp tục duy trì việc chăm sóc quần thể và xây dựng nhiệm vụ khoa học mới kéo dài 36 tháng, trong khi riêng năm 2026, kinh phí chăm sóc, thức ăn, thú y và khu trồng cỏ dự kiến hơn 311 triệu đồng.
Hà Lê (tổng hợp)